Công ty Du lịch Quốc Tế Anpha - Anpha Travel » Tin tức du lịch » Bản tin du lịch » Di Tích Gò Tháp

Tư Vấn Du Lịch Đồng Tháp

Di Tích Gò Tháp

Di Tích Gò Tháp

Địa danh Gò Tháp hay Gò Tháp Mười có nhiều truyền thuyết khác nhau theo tên gọi dân gian và có nhiều giả thuyết khác nhau về luận cứ khoa học. Từ tên gọi Gò Tháp hay Gò Tháp Mười đã trở thành tên gọi Đồng Tháp Mười (ĐTM) đại diện chung của một vùng đất rộng lớn gần 8000 km2 thuộc vùng tả ngạn sông Tiền. Đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười là có vùng đất ngập lũ hàng năm rộng trên 4.500 km2. Đây chính là bồn trũng ven sông ở tả ngạn Tam giác châu của sông Mekong. Đối trọng với vùng ĐTM trong kiến tạo địa chất là vùng bồn trũng Tứ giác Long Xuyên ở hữu ngạn sông Hậu thuộc Tam giác châu sông Mekong.

Gò Tháp cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 3,8 m, diện tích chừng 4.500m2.

Bảng giới thiệu di tích Gò Tháp

Di tích Gò Tháp được biết đến từ những năm cuối thế kỷ XIX và vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu người Pháp đã đến đây khảo sát và công bố những phát hiện quan trọng về một số dấu tích kiến trúc cổ, tượng thờ, bia đá và văn tự cổ…

Gò Tháp – nơi chứa đựng nhiều điều bí ẩn của một nền văn minh cổ xưa nhất ở Đông Nam Á được biết đến từ những năm đầu thế kỷ 20 do công khai quật của các nhà khảo cổ học người Pháp.

Nền tháp cũ xây dựng thời văn hóa Phù Nam ở Gò Tháp

Từ quan niệm Gò Tháp Mười là di tích của một ngôi tháp 10 tầng. Vào năm 1957 Ngô Đình Diệm cho xây dựng lại ngôi tháp gồm 10 tầng, cao 42 m, gọi là Tháp Mười để các sư thờ cúng phật, nhưng sau này chúng dùng Tháp Mười để làm viển vọng đài qua đó để quan sát vùng Đồng Tháp Mười nên Tháp Mười đã bị đạt công Quân giải phóng tỉnh Kiến Phong đánh sập vào ngày…

Năm 1957, Ngô Đình Diệm xây dựng tháp Mười Tầng (cao 42 m) ở Gò Tháp.

Ngoài những phát hiện của các học giả người Pháp ở di tích Gò Tháp, sau năm 1975 các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và phát hiện nhiều di tích khác ngay trên Gò Tháp và các khu vực xung quanh, mở ra một quần thể di tích trên khu vực Gò Tháp.

Khai quật khảo cổ tại Gò Tháp

I-2-Khu di tích Gò Tháp

Từ sau khi đất nước hòa bình và thống nhất vào năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng đặc biệt quan tâm đến khu di tích Gò Tháp. Sau nhiều lần tiến hành đào khảo sát, thám sát và khai quật, các nhà khảo cổ học đã có thể hình dung phần nào quy mô cùng tính chất của khu di tích này và phân định ba loại hình gồm di chỉ cư trú, di tích kiến trúc, di tích mộ táng. 

Điểm tham quan khu khảo cổ di tích Gò Tháp

Khu di tích Gò Tháp được các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành khảo sát, đào thám sát và khai quật nhiều lần. Chủ động trong việc thành lập Khu di tích Gò Tháp là UBND tỉnh Đồng Tháp, Bộ VH-TT với sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế trong các lĩnh vực liên quan.

Từ con lộ Mỹ Hòa đi vào, quần thể di tích Gò Tháp gồm 5 di tích tiêu biểuGò Tháp Mười; Tháp Cổ Tự; Đền thờ Thiên hộ Võ Duy Dương và cụ Đốc Binh Kiều, mộ cụ Đốc Binh Kiều; gò Minh Sưmiếu Bà Chúa Xứ.

Đây là khu di tích cấp quốc gia được Bộ VH-TT công nhận từ năm 1998, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa-lịch sử của dân tộc và nhân loại.

Nhận thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của khu di tích, ngay từ năm 2005, UBND tỉnh Đồng Tháp đã chỉ đạo khoanh vùng bảo vệ, lập phương án quy hoạch tổng thể với tổng diện tích khoảng 300 ha, với 04 khu chức năng chính là:

-Khu di tích bảo tồn, bảo tàng 53 ha;

-Khu rừng sinh thái 166 ha;

-Khu dịch vụ 54 ha; và

-Khu nuôi thú hoang dã Đồng Tháp Mười 27 ha.

Khu di tích Gò Tháp nằm trên địa bàn hai xã Mỹ Hòa và Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, cách huyện lỵ Tháp Mười khoảng 11 km về hướng Bắc, cách thị xã Cao Lãnh về hướng đông bắc 43 km (theo đường bộ và đường thủy).

Toàn khu di tích Gò Tháp có dài gần 500m, ngang 200m, ở đây mủa khô nhiều gò cát lớn nhỏ uốn lượn quanh co, tạo thành khu gò nổi, trên gò có nhiều cây cổ thụ trăm tuổi xoè bóng mát, sừng sững vươn cao. Mùa nước nổi thì đồng nước mênh mông xen lẫn màu xanh cây cỏ, tạo thành phong cảnh thiên nhiên kì vĩ.

Trong thời gian từ 2009 đến nay, khu di tích Gò Tháp đã được đầu tư 28 tỷ đồng bằng nguồn vốn Trung ương và của tỉnh, huyện để trùng tu, tôn tạo, bảo quản nền gạch cổ, làm mái che cạnh Miếu bà Chúa Xứ, khai quật khảo cổ di tích Gò Minh Sư, di tích Tường Thành phía tây, lập nhà trưng bày văn hóa Óc Eo, mở các tuyến đường giao thông nội bộ khu sinh thái để xây dựng Tháp Sen. Theo kế hoạch, giai đoạn năm 2012 – 2020, Khu di tích Gò Tháp sẽ xây dựng hoàn thiện hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống điện nước, các công trình bảo vệ di tích đã được khai quật, mở rộng khu vực Miếu bà Chúa Xứ, Nhà bảo tàng Xứ ủy Nam Bộ.

Hiện nay Khu di tích Gò Tháp có diện tích 320 ha, nằm trên địa bàn hai xã Mỹ Hòa và Tân Kiều thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Trong khu di tích gồm có các khu vực:

-Khu trung tâm (Gò Tháp hay Gò Cát nổi), là khu bảo tồn văn hóa Phù Nam đã được khai quật, bao gồm các di tích kiến trúc, mộ táng, di tích trưng bày ngoài trời có mái che phục vụ du khách. Trên gò có nhiều tán cây cổ thụ che cái nắng cháy bỏng của Đồng Tháp Mười.

Một góc trong khu khảo cổ di tích Gò Tháp

Khu văn hóa lễ hội và dịch vụ du lịch có diện tích 30 ha. Nơi đây bố trí nhà nghỉ, nhà hàng, tháp sen, sân khấu ngoài trời, khu đua thuyền và các công trình vui chơi giải trí khác.

-Các di tích văn hóa như: Tháp Mười Cổ Tự, Đền thờ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều, Miếu Bà Chúa Xứ cũng được tôn tạo, phục vụ khách tham quan chiêm bái. Hàng năm có hai kỳ lễ hội truyền thống dân gian vào rằm tháng 3 âm lịch: vía Bà Chúa Xứ và rằm tháng 11 âm lịch: Tưởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) và Đốc Binh Kiều, đã thu hút hàng trăm ngàn lượt khách hành hương về Gò Tháp để chiêm ngưỡng những kiến trúc cổ của nền văn hóa Óc Eo, cùng thưởng ngoạn sinh hoạt “học trò lễ”, “nhạc lễ”, “múa lân” và các hoạt động văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí khác.

-Khu du lịch văn hóa lịch sử có diện tích 20 ha vừa đưa vào sinh hoạt nhằm tái hiện lịch sử văn hóa xưa và nay của Gò Tháp. Khu du lịch sinh thái kéo dài từ phía bắc và tây nam, có diện tích 167 ha, nơi này sẽ tái tạo bảo tồn hệ sinh thái động vật vùng ngập nước, xây dựng nơi nghỉ dưỡng cùng các trò chơi dân gian.

Là một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia – Gò Tháp chẳng những nổi tiếng với các loài động thực vật đa dạng, đặc trưng của vùng sinh thái ngập nước tiêu biểu như: rắn, rùa, trăn, các loại chim, cỏ năn, sậy, lúa trời… mà còn nổi tiếng với địa hình hiểm trở, địa điểm lý tưởng của anh hào chọn làm nơi chống giặc ngoại xâm giữ nước. Thời kỳ đầu chống Pháp, đây là đại bản doanh của các anh hùng dân tộc như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều… 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Xứ ủy Nam kỳ, Tỉnh ủy Mỹ Tho, Tân An, Long Châu Sa…

Với bề dày văn hoá cùng với giá trị lịch sử sâu sắc, ngày 26/12/2012 (tức ngày 14/11 năm Nhâm Thìn) – đúng vào dịp Lễ giỗ Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều tại Khu di tích Gò Tháp vừa qua, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Khu di tích Gò Tháp là di tích quốc gia đặc biệt. Đây là niềm vinh dự và tự hào của người dân Tháp Mười nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung.

Khu di tích Gò Tháp là một trong 34 di tích quốc gia đặc biệt” của Việt Nam, là 1 trong 2 di tích lịch sử và khảo cổquan trọng trong cả nước (Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long và di tích Gò Tháp – tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp).

Đón nhận Quyết định của Thủ Tướng công nhận Khu di tích đặc biệt Gò Tháp

Khu di tích đặc biệt Gò Tháp hội tụ 3 loại hình: di tích kiến trúc, di tích cư trú và di tích mộ táng. Đây còn là những chỉ dấu quan trọng về các phương diện lịch sử, chính trị, kinh tế, nghệ thuật, tôn giáo của nền văn minh cổ xưa, rực rỡ gắn với Vương quốc Phù Nam từ hàng nghìn năm trước. Ngoài giá trị khảo cổ, lịch sử, Gò tháp được xem là tâm điểm của vùng Đồng tháp Mười, một trong số ít nơi còn lưu giữ nét hoang sơ của thiên nhiên, với những thảm thực vật phong phú đặt trưng của vùng đất ngập nước.

Quần thể di tích Gò Tháp (tính từ con lộ Mỹ Hoà đi vào) gồm có 5 di tích tiêu biểu: Gò Tháp Mười, tháp Cổ Tự, đền thờ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều, gò Minh Sư, miếu Bà Chúa Xứ. Tại đây, giới khảo cổ học phát hiện được nhiều di vật cổ rất giá trị, chứng tích của nền văn minh Óc Eo xưa. Phải chăng khoảng 1500 năm về trước, một thành phố cổ của vương quốc Phù Nam đã từng tồn tại nơi đây?

Ngoài công việc bảo tồn, trùng tu và xây dựng theo quy hoạch tổng thể, giữa Gò Tháp sẽ xây dựng Tháp Sen cao 110 mét, phỏng theo ý nghĩa câu thơ của nhà thơ Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen. Việt Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”.

Tương lai không xa, du khách đến đây sẽ được lên tháp mười tầng, ngắm nhìn vùng Đồng Tháp Mười bao la, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, thưởng thức các món ăn đặc sản, tham gia các lễ hội truyền thống và nghỉ ngơi trên các nhà sàn đơn sơ nhưng hiện đại giữa vùng Đồng Tháp Mười, mang vẻ đẹp bí ẩn với bề dày lịch sử văn hóa truyền thống mà khó thể tìm thấy ở nơi khác.

II-Các di tích tiêu biểu trong khu di tích Gò Tháp

Quần thể di tích Gò Tháp (tính từ con lộ Mỹ Hoà đi vào) gồm có 5 di tích tiêu biểu: Gò Tháp Mười; tháp Cổ Tự; Đền thờ Thiên Hộ Dương và cụ Đốc Binh Kiều, mộ cụ Đốc binh Kiều; gò Minh Sưmiếu Bà Chúa Xứ.

II-1-Di tích Gò Tháp Mười

Di tích Gò Tháp hay Gò Tháp Mười là một di tích khởi nguồn và quan trọng nhất trong Khu di tích Gò Tháp. Gò Tháp cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 3,8 m, (so với mực nước biển là 5,046 m) với diện tích khoảng 4.500 m2.

Từ những cuộc khảo sát của nhà khảo cổ học người Pháp L.Malleret (1944) đã phát hiện trên Gò Tháp có nhiều gạch và hàng chục khối đá lớn, yoni, cột… (như 3 cột lớn bằng đá hoa cương mặt cắt ngang hình vuông cạnh 0,48 m, dài 1,56 m, 1,10m và 1,42m, một đầu có chốt đầu kia có mộng để ghép nối theo chiều cao).

Ngoài những phát hiện của các học giả người Pháp ở di tích Gò Tháp, sau năm 1975 các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và phát hiện chi tiết hơn về cấu trúc nền của di tích Gò Tháp được xây dựng vào thời Vương quốc Phù Nam (tồn tại trong thế kỷ thứ I-VII) với nhiều hiện vật khảo cổ có giá trị về lịch sử và văn hóa.

Dấu tích rõ ràng nhất là kiến trúc gạch dài 17,30 m theo hướng Đông – Tây, rộng 12m (Bắc – Nam), cạnh bẻ góc, đối xứng hai phần Bắc – Nam, cho thấy kiến trúc khá quy mô và có liên quan đến nhiều kiến trúc khác xung quanh. Di vật gồm những mảnh gốm bình ấm có vòi, một số mảnh vỡ của Yoni, tượng Visnu, khuông đúc, đặc biệt có 2 tượng Visnu rất đẹp tuy không nguyên vẹn.

Di tích nền gạch xây dựng thời Vương quốc Phù Nam tại Gò Tháp

Cho đến nay trong số các bia đá mang nội dung phản ánh về vương quốc Phù Nam có 1 tấm bia (ký hiệu K5) tìm thấy ở di tích Gò Tháp, được các nhà nghiên cứu định niên đại vào thế kỷ V. Nội dung văn bia thấm đượm tinh thần Hindu giáo, Chi phái Visnu là tôn giáo phổ biến song hành cùng Phật Giáo trong văn hóa Óc Eo. Quan trọng nhất là văn bia còn cho biết, chính đây là vùng đầm lầy được chinh phục bởi vua Phù Nam Jayavarman và phong cho con trai là Gunavarman cai quản.

Bia đá thời Phù Nam ở Gò Tháp

II-2-Di tích Tháp Cổ Tự

Cách gò Tháp Mười chừng 100 m về phía Bắc là tháp Cổ Tự. Tương truyền có từ thời vua Thiệu Trị (1841-1847), phía trước còn có ngôi tháp thờ của người Chân Lạp. Ngôi chùa này trước kia ở Gò Tháp Mười đã được dời sang đây năm 1956 sau khi bị bom đánh sập. Hiện nay, ngôi chùa cổ đượm màu hoang phế với những vết tích chiến tranh tàn phá này đã được thay bằng một ngôi chùa mới đẹp và khang trang hơn từ sự đóng góp xây dựng của người dân.

Toàn cảnh Tháp Mười Cổ Tự

II-3-Di tích Đền thờ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều

Qua khỏi chùa là đến đền thờ Thiên hộ Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (Đốc Binh Kiều), hai nhà yêu nước trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1862 – 1866) đã chọn Gò Tháp làm căn cứ địa của nghĩa quân yêu nước.

II-3-1-Tiểu sử Thiên Hộ Dương

Tượng Võ Duy Dương ở Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp

Thiên Hộ Võ Duy Dương (1827-1866), còn gọi là Thiên Hộ Dương (do giữ chức Thiên hộ), là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp (1862-1866) ở vùng Đồng Tháp Mười, thuộc Đồng bằng Sông Cữu Long, Việt Nam.

-Quê quán

Theo tư liệu của gia đình họ Võ ở Nhơn Tân (An Nhơn, Bình Định) và của Ban Nghiên cứu lịch sử tỉnh Bình Định, Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm Nam nay là thôn Nam Tượng I, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Nam Tượng I là một thôn nhỏ nằm dưới chân núi Thơm, cách sông Côn 4 km về phía Nam, cách làng Kiên Mỹ 12 km.

Tổ tiên của Võ Duy Dương là Võ Hữu Man từ miền Bắc vào thôn Nam Tượng lập nghiệp, đến đời Võ Duy Dương là đời thứ 6. Theo lời kể của cụ Võ Quế, 85 tuổi (1989), cháu nội Võ Duy Dương, thì ông Dương là con thứ ba trong gia đình, và thuở nhỏ ông Dương là người sáng trí, khỏe mạnh, giỏi võ nghệ. Khi cha qua đời, gia đình sa sút, ông Dương phải đi chăn trâu để sinh sống. May nhờ vị quan sở tại cảm thông hoàn cảnh nghèo khó và mến tài nên nhận làm con nuôi.

Trong một kỳ thi võ, ông cử được một lúc 5 trái linh, mỗi trái 60 cân (hai tay xách 2 trái, hai nách kẹp 2 trái, răng cắn 1 trái, nên từ đó mọi người đều gọi ông là Ngũ Linh Dương. Ông có người anh tên là Võ Duy Tân, sau này tham gia phong trào Cần Vương kháng Pháp ở Bình Định do Mai Xuân Thưởng chỉ huy. Sau khi Mai Xuân Thưởng chết, ông Tân lại theo Võ Trứ, bị Pháp bắt và xử án chém cùng với nhiều nghĩa quân khác tại Gò Chàm (Bình Định) ngày 13 tháng 9 năm Đinh Dậu (tức ngày 9 tháng 10 năm 1898), thọ 73 tuổi.

Vào Nam kháng Pháp

Năm 1853, theo đề nghị của các quan, trong đó Nguyễn Tri Phương, vua Tự Đức ban hành chính sách đồn điền. Năm 1857, hưởng ứng chính sách vừa kể, Võ Duy Dương vượt biển vào Nam Kỳ tìm đến đất Ba Giồng, ven Đồng Tháp Mười (nay thuộc địa bàn các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè, thuộc tỉnh Tiền Giang), để chiêu dân lập ấp, kết bạn với Nguyễn Hữu Huân và trở thành một hào phú ở địa phương.

Tháng 2 năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định rồi đánh chiếm thành Mỹ Tho (tháng 4 năm 1861), Võ Duy Dương cùng Thủ Khoa Huân kéo lực lượng về Gia Định đánh trả. Vì vậy, ông được phong chức Chánh quản đạo. Thành Gia Định vỡ, ông vượt biển về Kinh đô Huế, bái yết vua Tự Đức hiến kế đánh đuổi Pháp. Sau đó, ông được điều về Quảng Nam dẹp cuộc nổi dậy của người Thạch Bích (mọi Vách Đá) và được phong hàm Chánh bát phẩm Thiên hộ vào năm 1860.

Tháng 5 năm 1861, ông được sung vào phái bộ của Khâm phái quân vụ Đỗ Thúc Tĩnh vào Nam Kỳ với nhiệm vụ chiêu mộ nghĩa dũng chống ngoại xâm. Trong một thời gian ngắn, ông mộ được gần một ngàn người, trong số đó, có cả lính đánh thuê thuộc quân đội Pháp và một người Pháp là Liguet  và ông được phong chức Quản cơ.

Ông đóng quân ở Bình Cách (huyện Chợ Gạo-Tiền Giang), liên kết với Trương Định ở Gò Công, Trần Xuân Hoà (Phủ Cậu) ở Thuộc Nhiêu và Đỗ Thúc Tĩnh ở Mỹ Quí. Tự giác giương cao khẩu hiệu “Cần Vương” chống Pháp, nghĩa quân lấy Đồng Tháp Mười là vùng rừng đầm lầy, hiểm trở vào bậc nhất ở Nam Bộ thời bấy giờ làm căn cứ. Từ đây, nghĩa quân dùng chiến thuật du kích đánh Pháp trên cả một vùng rộng lớn từ Hà Tiên, Rạch Giá đến Đồng Tháp, gây cho quân Pháp nhiều tổn thất.

Giữa lúc lực lượng nghĩa quân đang quyết chiến, thì triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Ngay sau đấy, triều đình Huế buộc các tổ chức nghĩa quân phải hạ khí giới. Không tuân lệnh, ông bị triều đình tước binh quyền và sai người lùng bắt (Phan Thanh Giản nhận lệnh triều đình, sai quản cơ Trần Văn Thành truy đuổi).

Sau, Thủ Khoa Huân, Trương Định lần lượt hy sinh. Tuy nhiên, Võ Duy Dương cùng với các nghĩa sĩ khác như Nguyễn Tấn Kiều (tức Đốc Binh Kiều), Trần Kỳ Phong, Thống Bình, Lãnh Binh Dương, Thương Chấn, Thống Đa, Quản Văn, Quản Là,…vẫn không hề nản chí.

Ngày 14 tháng 4 năm 1866, Pháp huy động một lực lượng gồm 1.000 quân thủy bộ cùng nhiều tàu chiến, đại bác chia làm ba mũi đồng loạt tiến công từ ba hướng Cần Lố, Cái Nứa và Bắc Chiêng, quyết đánh chiếm sở chỉ huy của nghĩa quân. Nhiều trận đụng độ ác liệt đã xảy ra, làm quân Pháp bị tiêu hao không ít, nhưng trước sức công phá của vũ khí mạnh, nghĩa quân phải rút đi, sau khi Đồn Trung bị đánh hạ . Theo Hồ sơ cá nhân của Trần Bá Lộc mang số SL. 311 trong Văn khố Quốc gia, thì ông Lộc có tham gia trận này, và sau đó được thực dân Pháp tặng thưởng Danh dự Bội tinh bạc cũng vào tháng 4 năm đó.

Sau khi rút khỏi Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương đem quân phối hợp với con của Trương Định là Trương Quyền và thủ lãnh người Khmer là Acha Xoa, tiếp tục đánh Pháp nhiều trận trước khi suy yếu dần.

-Các giả thuyết về cái chết của Thiên Hộ Dương

Cái chết của vị anh hùng dân tộc Thiên Hộ Dương có nhiều bí ẩn, có nhiều giả thuyết khác nhau:

Giả thuyết Thiên Hộ Dương mất trên đường đi ra Huế 

Sau khi căn cừ Đồng Tháp Mười thất thủ (sau ngày 14 tháng 4 năm 1866), đến tháng 10 năm 1866, Võ Duy Dương dùng thuyền theo đường biển ra Bình Thuận để cầu viện sự giúp đỡ của triều đình và liên lạc với nghĩa sĩ miền Trung nhằm gây dựng lại lực lượng.

Dựa vào những phân tích của Gustave Janneau về hai bản tấu kín của ông Dương dâng vua Tự Đức  thì rất có thể triều đình cho vời ông ra Huế để trình bày kỹ càng hơn việc: “đề nghị nhà vua cho phép dùng mưu kế thu hồi lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ”, “nếu nhà vua cho lệnh, ông có thể tiêu diệt hết binh lính Pháp ở nơi kênh rạch nhỏ hẹp, nơi mà các đại bác mất tác dụng”…

Cũng không loại trừ khả năng triều đình đang tìm cách bắt Võ Duy Dương, để làm vừa lòng Pháp, không cho họ lấy cớ vì ông “phá quấy” mà lấn chiếm đất thêm, vì bấy giờ chủ súy Pháp vẫn cho là các quan lại ở ba tỉnh miền Tây vẫn chứa giấu Thiên Hộ Dương.

Nhưng không may, khi đến cửa biển Cần Giờ, ông và các thuộc hạ đều bị cướp biển sát hại, nên câu hỏi vì sao ông ra Huế vẫn chưa có lời đáp.

Giải thích thêm nguyên nhân mất 

Tuy vẫn còn vài ý kiến khác, nhưng theo những nỗ lực tìm kiếm xác minh gần đây, nhiều nhà nghiên cứu sử đã đồng thuận rằng Võ Duy Dương đã bị cướp biển giết ở mũi Thị Khiết (Thần Mẫu) thuộc vùng biển Cần Giờ, khoảng tháng 10 năm 1866, lúc ông mới 39 tuổi.

Bởi căn cứ vào các nguồn:

Trong báo cáo của Nguyễn Đức Hạnh gửi cho Chánh sở mật thám Pháp:

Người này tên là Dương đã bỏ trốn sau khi Tháp Mười bị chiếm. Ông ta lên chiếc ghe bầu để đi Bình Thuận. Trước khi đến xứ này, ông đã bị tên Lý Sen, cầm đầu một đám cướp biển tấn công. Lý Sen đi trên một chiếc thuyền mành mà người ta gọi là “Thiền du”, đã cho liệng xuống biển tất cả những người An Nam đi trên chiếc ghe cửa này. Lý Sen lục lọi trong một chiếc rương lớn lấy tất cả áo quần, các cấp bằng và mũ miện của Thiên Hộ Nguyên soái tên Võ Duy Dương.

Nguyễn Đức Hạnh còn cho biết thêm sau đó tên Sen bị bắt vì Hai Sĩ tố cáo y đã cướp bóc nhiều ghe biển, và tên Sen đã cắn lưỡi chết trong ngục.

Tác giả Schreiner trong quyển Đại Nam Quốc sử cũng đã tái xác nhận nguồn tin này:

Người ta nghe tin ông Võ Duy Dương mới chết chìm tại phía mũi Đinh (Padaran), là nơi ông đánh với ba chiếc ghe tàu ô của đảng ăn cướp, quân ấy hạ hết người trên hai ghe.

Chẳng lẽ một vị Thủ lĩnh kháng chiến lẩy lừng lại bị giết bởi cướp biển?

Các giả thuyết khác về cái chết của Thiên Hộ Dương

+Trong dân gian ở xã Mỹ Thọ (Cao Lãnh, Đồng Tháp) còn lưu truyền nguồn tin là sau khi thất thủ ở Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương rút qua An Giang, Rạch Giá và bị cướp biển chặn đánh và chết ở cửa biển Rạch Giá (địa điểm chết khác với 2 tài liệu trên).

+Ngoài ra, còn có hai tư liệu sau, cũng cho rằng ông Võ Duy Dương mất ngoài biển cả, nhưng nguyên do là vì bão tố làm cho đắm thuyền:

Trong Đại Nam thực lục chính biên :

Thiên Hộ Dương ủy người về dâng sớ kín. Vua sai Vũ Trọng Bình hỏi kín, cốt phải hỏi đến chỗ cùng bàn cho ổn thỏa. Rồi được quan Thuận Khánh báo rằng Võ Duy Dương đi thuyền về tỉnh Bình Thuận đầu thú gặp gió nên bị đắm ở phận biển Thần Mẫu, sai đi tìm xác, chi đồ vật đem chôn, cấp cho mẹ hắn mỗi tháng 5 quan tiền, 1 phương gạo.

Trong Nam Kỳ Phong tục nhân vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong:

Thoát thân về với ghe bầu,

Khỏi nơi Cần Hải tiền xu đoán thoàn.

Giấc nồng đêm dậy nhảy khan,

Hồn chôn bụng cá ưng oan chẳng cần.

-Đền thờ

Để tưởng nhớ Võ Duy Dương, tại Gò Tháp (xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp), người dân đã lập đền thờ ông và đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Tại nơi ông sinh ra (xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn), năm 1997, dòng họ đã góp tiền xây dựng đền thờ và hàng năm tổ chức tế lễ.

Gần đây, sáng ngày 15 tháng 12 năm 2007 Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trao tặng cho đền thờ Võ Duy Dương tại xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn một tượng đồng phác họa chân dung ông, trong chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân”.

Tại đền thờ ông và Đốc Binh Kiều ở Gò Tháp có câu đối:

Sử sách sáng chói danh Thiên Hộ,

Bia miệng lưu truyền tiếng Đốc binh.

Ở đây cũng còn lưu truyền câu ca dao:

Chiều chiều mây giục gió vần

Cảm thương Thiên Hộ xả thân cứu đời!

Ngày 14 tháng 11 âm lịch hằng năm, là ngày giỗ chung hai ông.

II-3-2-Tiểu sử Đốc Binh Kiều

Tượng Đốc Binh Kiều ở Bảo tàng Đồng Tháp

Đốc Binh Kiều (?- 1886) hay Nguyễn Tấn KiềuLê Công Kiều, Trần Phú Kiều, trong dân gian gọi tôn là Quan Lớn Thượng; là Phó tướng của Võ Duy Dương trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở Đồng Tháp Mười vào nửa cuối thế kỷ 19.

+Cuộc đời 

Tương truyền Đốc Binh Kiều là người miền Trung di cư vào miền Nam lập nghiệp ở huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường.

Sau khi thành Gia Định thất thủ (1859), ông đến Gia Định đầu quân chống thực dân Pháp.

Nhờ giỏi võ nghệ, ông được cử chỉ huy một đội dân dũng. Năm 1861 Đại đồn Kỳ Hòa bị giặc Pháp san bằng, ông không theo quân triều đình rút về Biên Hòa mà dẫn quân về lập căn cứ ở Sầm Giang, Long Hưng (thuộc huyện Kiến Đăng) để tiếp tục chiến đấu.

Khi hay tin, Trương Định lập căn cứ Tân Hoà (Gò Công), Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên Hộ Dương) lập căn cứ ở Bình Cách, Mỹ Quý (thuộc Ba Giồng, huyện Kiến Đăng), ông đem quân về hợp tác với chủ tướng Dương, được phong chức Đốc binh và rồi trở thành Phó tướng.

Sau hai cuộc tấn công lớn của giặc Pháp (tháng 11 năm 1862 và ngày 5 tháng 11 năm 1863), đến ngày 20 tháng 4 năm 1863, quân Pháp lại tấn quân lần nữa, khi ấy quân khởi nghĩa mới thật sự bị đánh bật ra khỏi Bình Cách, rút về Xoài Tư, một trong ba cửa ngõ vào Đồng Tháp Mười.

Để củng cố lại lực lượng, Thủ Khoa Huân đi các tỉnh miền Tây vận động tiền bạc để mua thêm võ khí, Võ Duy Dương đi chiêu mộ thêm lính và hô hào đồng bào chống quân xâm lược, còn ông thì tìm vào Đồng Tháp Mười, lập căn cứ chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài.

Ở vùng đầm lầy này, ông đã huy động quân dân xây dựng ba đồn chính bằng đất có hào và tre bao bọc nằm án ngữ trên ba con đường dẫn vào Đồng Tháp Mười, đó là Đồn Tiền (trên đường đi Cái Nứa), Đồn Tả (trên đường đi Mộc Hóa, hướng Gò Bắc Chiêng) và Đồn Hữu (trên đường đi Cần Lố), và đặt đại bản doanh tại Đồn Trung (Gò Tháp).

Tháng 7 năm Giáp Tý (1864), Thủ Khoa Huân bị Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận bắt giao cho Pháp. Đến tháng sau (20 tháng 8 năm 1864), Trương Định bị Huỳnh Công Tấn phản bội, nên hy sinh ở Gò Công.

Trước những mất mát to lớn này, Võ Duy Dương quyết định rút vào Đồng Tháp Mười, và nơi đây thực sự trở thành trung tâm kháng chiến mới trong những năm 1864-1866.

Theo sự phân công của chủ tướng, Đốc Binh Kiều chỉ huy Đồn Tả, chịu trách nhiệm phòng giữ mặt Xáng Xéo, Rạch Ruộng; không cho giặc Pháp từ Cai Lậy, Cái Bè tiến vào.

Ở đây, có vài lần ông đã chủ động kéo quân ra đánh Cai Lậy, và nhiều nơi khác, làm cho giặc Pháp bị nhiều thiệt hại. Tuy nhiên, cách thức của ông thường dùng vẫn là lối đánh du kích. Nhờ địa thế nơi ông trấn giữ có nhiều đầm lầy, tràm đưng cùng vô số muỗi, đỉa…nên ông đã cùng nghĩa quân nghĩ ra nhiều cách đánh du kích, khá hiệu quả, như thả ong độc, rắn độc; lợi dụng cỏ khô trên đồng, dùng kế hỏa công; hay gài chông, đặt bẫy v.v…

Trong cuộc tấn công Gò Tháp vào tháng 4 năm 1866, thực dân Pháp đã sai các sĩ quan là: Roubé, Paris de la Bollardère Gally, Passebose, Vigny và các cộng sự là Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Phạm Công Khanh…dẫn một đội quân đông đảo đồng loạt tấn công tấn cả ba đồn, hòng mở đường tiến vào đại bản doanh. Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều cùng nghĩa quân chống trả quyết liệt, đẩy lui được nhiều đợt tiến công của địch.

Chẳng may, lúc lên đài quan sát, Đốc Binh Kiều bị đạn của địch bắn trúng, được đưa về gò Giồng Dung điều trị. Nhưng do bị thương nặng, lại buồn rầu vì đại đồn thất thủ, ông mất ngay năm đó (1866). Nhưng cũng có người cho rằng, trong lúc đánh xáp lá cà, ông đã hy sinh tại trận chiến trên.

+Mộ táng

Khi Đốc Binh Kiều mất, nghĩa quân mang thi hài ông về chôn cất tại nền đồn Trung ở Gò Tháp, đồng thời cũng làm vài ngôi mộ giả để nghi trang. Hiện nay, ở Gò Tháp có đền thờ chung, thờ ông và chủ tướng Võ Duy Dương. Và hàng năm, từ chiều 14 đến rạng sáng 16 tháng 11 (âm lịch), đều có tổ chức lễ hội để tưởng niệm.

Trong dân gian còn lưu truyền bài thơ ca ngợi ông như sau:

Vì nước quên mình bởi chữ trung,

Thương dân chi sá chốn sình bùn,

Mấy năm Đồng Tháp danh vang dội,

Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,

Hai thước im lìm nơi thạch động,

Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,

Nỗi lòng nghỉ đến nhiều năm trước,

Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng.

Và ở huyện Cai Lậy, Tiền Giang có một ngôi trường phổ thông trung học mang tên ông.

Đền thờ chung của Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều

II-4-Di tích Gò Minh Sư

Gò Minh Sư là di tích cư trú và mộ táng của người Phù Nam trong quần thể Khu di tích Gò Tháp. Dấu tích cư trú phân bố dưới chân gò và rộng khắp cánh đồng thấp xung quanh.

Tại di chỉ cư trú gò Minh Sư đã diễn ra 3 lần khai quật:

Tháng 1-2001 đã phát hiện một khu cư trú cùng mộ táng cách chân gò Minh Sư chừng 120 m về phía Đông Nam với địa tầng còn nguyên vẹn;

Trong di chỉ tìm thấy nhiều di vật đá nhưng hiện vật chiếm tỷ lệ nhỏ. Đồ đất nung gồm mảnh ngói, tượng khỉ, dấu ấn, mảnh phù điêu, vòi yoni…

Đồ gốm khá phong phú, có tới hơn 18.000 mảnh, gồm các loại bình, vò nồi, nhiều mảnh lớn có thể phục nguyên được, có lẽ đây là những hiện vật nguyên vẹn đã bị sụp vỡ do đây là khu di chỉ cư trú và mộ táng.

Một số lớn các bình vò, nồi lớn đã được dùng để đựng than tro hỏa táng – như trong mộ M1: chiếc vò đựng xương tro có hình quả lê, cổ trụ, vành miệng đã mất, vai xuôi thân phình tròn, thu dần xuống đế hình vành khăn thấp. Gốm mịn màu ngà vàng, xương trắng xám lẫn ít sỏi laterit. Một vò khác có xương đen, chắc mịn, áo màu đỏ gạch loang lổ. Việc xuất lộ vò gốm chứa than tro, đặc biệt mật độ dày đặc của các cụm bình vò cho thấy đây là phát hiện đầu tiên về một khu mộ táng khá tập trung trong văn hóa Óc Eo.

-Tháng 3-2002, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hố mộ phân bố trên thềm sỏi laterit hoặc chồng chéo lên nhau; Chúng có dạng hố đào hình lòng chảo hoặc hình phễu, đáy lót cát hoặc có thêm lớp đất sét xám xanh bên dưới. Bên trên có các đồ gốm vỡ, xương thú, than tro, sỏi nhỏ và nhiều hiện vật khác…Bên cạnh hiện tượng hỏa táng có thể đã tồn tại hiện tượng hung táng hay bán hung táng. Ngoài số lượng gốm khổng lồ và nhiều loại hình hiện vật khác đã được phát hiện gồm các chất liệu đá, xương, thủy tinh, kim loại, gỗ…còn phát hiện xỉ thủy tinh, xỉ kim loại, cốc rót kim loại, mảnh vỡ của các tấm đá…cho thấy sự phát triển của nhiều nghề thủ công ở đây. Đặc điểm và địa tầng Gò Minh Sư cho thấy di chỉ được sử dụng cư trú và chôn cất trong một thời gian rất dài, khoảng từ TK I đến TK VIII sau CN.

Tháng 4-2003 với việc khai quật di tích gò Minh Sư lần thứ ba, đã làm rõ thêm các đặc điểm của di chỉ cư trú kiêm mộ táng của di tích.

Hình thức cư trú theo mùa được nhận thức khá rõ, cư trú trên các đồi gò thấp bên cạnh các lạch trũng nhỏ và quá trình bồi đắp để mở rộng diện tích sử dụng là một đặc điểm phổ biến của giai đoạn văn hóa Óc Eo ở đây. Bên cạnh các di vật Óc Eo điển hình, một số di vật ngoại nhập còn có những mảnh gốm có đặc điểm của thời tiền sử, cho thấy di tích này trong khu di tích Gò Tháp không chỉ là một trung tâm văn hóa Óc Eo phát triển, có mối quan hệ rộng rãi với thế giới bên ngoài mà còn có lịch sử phát triển lâu đời hơn những gì đã biết đến nay.

II-5-Di tích Gò Bà Chúa Sứ

Tại cuộc khai quật gò Bà Chúa Xứ năm 1984, các nhà khảo cổ đã đưa ra khỏi lòng đất một kiến trúc khá lớn nằm trong lòng gò với kích thước 20,90 x 13,40m có cạnh bẻ góc dài ngắn khác nhau, phần nền và móng có những ô vuông xây gạch, có chỗ dày đến 1,4m. Mặc dù phần kiến trúc bên trên đã bị phá hủy hoàn toàn nhưng các nhà khảo cổ cũng có thể căn cứ vào dấu tích nền móng và những mảnh đá kiến trúc còn lại để xác định đây là một đền thờ Hindu giáo được xây dựng khá chuẩn mực, có niên đại vào thế kỷ VI.

Lễ hội vía Bà Chúa Xứ ở Khu di tích Gò Tháp

II-6-Các di tích khác

Ngoài các di tích tiêu biểu nói trên, Trong khu di tích Gò Tháp còn có một số di tích khác như: Đìa Phật, Đìa Vàng, một vài gò nhỏ xung quanh…trong các di chỉ này tìm thấy vết tích bếp lửa, mảnh gốm ám khói, than củi, phế thải bếp núc, xương trâu bò, vỏ dừa, hạt luá, trái cây, gỗ có vết gia công, nhiều cọc gỗ nhà sàn, đặc biệt nhiều tượng Phật bằng gỗ và có dấu hiệu của một xưởng thủ công chuyên chế tác loại tượng này…Niên đại của những di chỉ cư trú này kéo dài từ thời kỳ Tiền sử muộn đến thời kỳ văn hóa Óc Eo. Cùng với những di chỉ cư trú khác trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An, nhóm di chỉ cư trú ở khu di tích Gò Tháp đã mang lại nhiều tư liệu mới để tìm hiểu về chủ nhân văn hóa Óc Eo.

III-Các cổ vật quan trọng trong Khu di tích Gò Tháp

Cổ vật trong khu di tích Gò Tháp
 
Hiện vật khai quật

Hiện vật trong di tích kiến trúc và mộ táng vô cùng phong phú về chất liệu, độc đáo về loại hình và kiểu dáng, những hiện vật quý gồm có nhóm các chế tác bằng vàng, nhóm các pho tượng bằng gổ và 2 bia đá có minh văn.

Nhóm hiện vật vàng ở Gò Tháp có đến 321 mảnh, chạm khắc hình tượng các vị thần, linh vật, hoa văn…Từ các cứ liệu C14, văn khắc từ những mảnh vàng này đã cho biết niên đại của chúng không đồng nhất, thể hiện ảnh hưởng từ nền văn hóa Ấn Độ trong thời gian khá dài, từ Thế kỷ IV – V trước Công nguyên cho đến Thế kỷ V sau CN.

Khu di tích Gò Tháp nổi tiếng với các pho tượng Phật bằng gỗ – di vật đặc trưng của nghệ thuật Phật giáo trong văn hóa Óc Eo. Tuy phần lớn tượng Phật gỗ được phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào đìa, làm ruộng nhưng số lượng lớn, sự phong phú và đa dạng về kích thước và kiểu dáng vừa phản ánh sự tiếp thu các ảnh hưởng của nghệ thuật mới, vừa bộc lộ nét bản địa chân chất, giản dị trong chất liệu tạc tượng là nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào tại chỗ. Chất liệu gỗ mù u làm nên các pho tượng này vừa bền vững đồng thời vẫn thỏa mãn được sự sáng tạo, tính đa dạng của nghệ nhân Óc Eo, tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo ở đây. Thế kỷ V-VII là thời kỳ phát triển rực rỡ của điêu khắc Phật giáo bản địa mà sưu tập tượng Phật bằng gỗ ở vùng Đồng Tháp là một minh chứng.

Cho đến nay trong số các bia đá mang nội dung phản ánh về vương quốc Phù Nam có 1 tấm bia (ký hiệu K5) tìm thấy ở khu di tích Gò Tháp, được các nhà nghiên cứu định niên đại vào thế kỷ V. Nội dung văn bia thấm đượm tinh thần Hindu giáo, Chi phái Visnu là tôn giáo phổ biến song hành cùng Phật Giáo trong văn hóa Óc Eo. Quan trọng nhất là văn bia còn cho biết, chính đây là vùng đầm lầy được chinh phục bởi vua Phù Nam Jayavarman và phong cho con trai là Gunavarman cai quản.

Quy mô kiến trúc, nội dung phản ánh của sưu tập di vật và hệ thống đường giao thông thủy trong khu di tích Gò Tháp đã cho thấy, khu vực này từng là một trung tâm tôn giáo – văn hóa quan trọng từ TK IV đến TK VIII, không chỉ của vùng Đồng Tháp Mười mà còn của chung đồng bằng sông Cửu Long.

Cuộc sống của cư dân thời cổ thể hiện rõ nét quá trình thích nghi với môi trường sinh thái tự nhiên. Tính chất thích nghi không chỉ là sự “nương nhờ”, khai thác tự nhiên một cách thuần tuý mà còn là quá trình tạo nên môi trường sinh thái nhân văn – cảnh quan lao động sản xuất, nơi cư trú, các công trình kiến trúc… 

Khảo cổ học dựa vào những di tích di vật phát hiện được để nghiên cứu về đời sống con người trong quá khứ, tất nhiên, chỉ hiểu biết được một phần vì những gì còn lại cũng vô cùng ít ỏi. So với nhiều di tích khảo cổ, khu di tích Gò Tháp là nơi phát hiện một số lượng lớn di vật nhiều loại hình, từ vật dụng sinh hoạt trong di chỉ cư trú đến vật dâng cúng quý giá trong các đền tháp, vật tùy táng linh thiêng trong những ngôi mộ, từ các phế tích kiến trúc đền tháp và tượng thờ, minh văn đến di tích nhà ở, nền bếp… 

Tổng thể di tích và di vật phản ánh quá trình tụ cư, hoạt động kinh tế – văn hóa – tôn giáo và các mối quan hệ giao lưu trong một thời gian dài khoảng 10 thế kỷ. “May mắn” là môi trường tự nhiên và nhân văn của khu di tích này (và nhiều di tích văn hóa Óc Eo khác) vẫn chưa biến đổi nhiều so với trước kia. Điều đó giúp ta hình dung được phần nào cuộc sống của chủ nhân những di tích và di vật nơi đây. Trong môi trường sinh thái “bưng biền Đồng Tháp” cư dân cổ đã xây dựng cảnh quan nhân văn gồm các kiến trúc đền thờ, tháp mộ trên các gò phù sa cổ (có khi được con người đắp cao thêm), xây dựng nhà sàn cư trú ở địa hình thấp xung quanh… Họ khai thác nhiều loại động – thực vật nơi đầm lầy đìa trũng để sinh sống, trong đó có lúa ma hay lúa trời – loại lúa hoang dại có thể cao đến 1,5m, nổi trên mặt nước vào mùa nước, rồi dần dần “cải tạo” vùng đất trũng lầy để trồng lúa – có lẽ là theo lối sạ lúa một vụ năng xuất không cao, giống như lối canh tác của cư dân Đồng Tháp Mười cho đến gần đây. Quá trình này để lại dấu tích cư trú ở đây trong một thời gian rất dài, từ đầu Công nguyên đến khoảng thế kỷ XII – XIII. Không chỉ vậy, khu vực Gò Tháp còn gắn liền với cảng thị Óc Eo – Ba Thê và trở thành một trung tâm lớn thể hiện sự gắn bó giữa đời sống xã hội và sự phát triển của tôn giáo: từ một vài di tích quy mô không lớn, xây dựng đơn giản vào đầu Công nguyên đã phát triển đến đỉnh cao của kiến trúc và điêu khác Hindu giáo và Phật giáo vào thế kỷ VI – VIII.

IV-Ý nghĩa và tầm quan trọng của Khu di tích Gò Tháp

Với những giá trị lịch sử độc đáo không chỉ của dân tộc mà còn của cả nhân loại, khu di tích Gò Tháp đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1998.

Ngày 26/12/2012, tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức lễ đón nhận Di tích quốc gia đặc biệt đối với Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Gò Tháp (Khu di tích Gò Tháp). Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn lao đối với người dân Tháp Mười nói riêng và người dân Đồng Tháp nói chung.

Khu di tích Gò Tháp là một trong 34 di tích quốc gia đặc biệt” của Việt Nam, là 1 trong 2 di tích lịch sử và khảo cổquan trọng trong cả nước (Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long và di tích Gò Tháp – tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp).

Khu di tích đặc biệt Gò Tháp hội tụ 3 loại hình: di tích kiến trúc, di tích cư trú và di tích mộ táng. Đây còn là những chỉ dấu quan trọng về các phương diện lịch sử, chính trị, kinh tế, nghệ thuật, tôn giáo của nền văn minh cổ xưa, rực rỡ gắn với Vương quốc Phù Nam từ hàng nghìn năm trước. Ngoài giá trị khảo cổ, lịch sử, Gò tháp được xem là tâm điểm của vùng Đồng tháp Mười, một trong số ít nơi còn lưu giữ nét hoang sơ của thiên nhiên, với những thảm thực vật phong phú đặt trưng của vùng đất ngập nước.

Ngoài ra, Khu di tích Gò Tháp còn có các thiết chế tôn giáo và tín ngưỡng cổ truyền như: tháp cổ tự, đền thờ, miếu bà Chúa Xứ, mộ Hoàng Cô, nền Tháp cổ và nhiều giai thoại dân gian mang màu sắc huyền bí, tâm linh.

Nếu so với những khu di tích khác của văn hóa Óc Eo thì khu di tích Gò Tháp tương đương về quy mô, số lượng và loại hình di tích. Song những bí ẩn trong lòng đất vẫn còn tiềm tàng nhiều bí ẩn, cần phải tiếp tục nghiên cứu và khám phá…

Không chỉ mang dấu ấn của một nền văn hoá cổ xưa, Khu di tích Gò Tháp còn là nơi chiến đấu và ngã xuống của không ít anh hùng dân dộc. Chính nơi đây là đại bản doanh của nghĩa quân Thiên hộ Võ Duy Dương, Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều thời kỳ đầu chống Pháp. Ghi dấu đậm nét sự chiến đấu, hy sinh anh dũng, người dân địa phương đã lập đền thờ phụng 02 vị anh hùng dân tộc ngay trên vùng đất linh thiêng này.

Không chỉ vậy, vùng đất này sau còn là căn cứ địa của Xứ ủy Nam bộ, nơi được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến” với Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ, Khu ủy khu 8, in dấu tích hoạt động cách mạng của các cán bộ cao cấp của Đảng như: đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Trần Văn Trà và nhiều đồng chí khác.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Minh Hoan nhấn mạnh tại lễ công bố công nhận Khu di tích đặc biệt Gò Tháp (26/12/2012):

Gò Tháp hôm nay đã chính thức trở thành di sản có giá trị đặc biệt của quốc gia, đó là chân giá trị mà vùng đất này xứng đáng được thừa nhận. Đây là thuận lợi lớn trong chiến lược phát triển du lịch tỉnh nhà nói chung và Gò Tháp nói riêng”.

Hiện nay Khu di tích Gò Tháp được tỉnh Đồng Tháp qui hoạch tổng thể với diện tích 300 ha, được chia thành 4 khu chức năng chính là:

-Khu di tích bảo tồn, bảo tàng 53 ha;

-Khu rừng sinh thái 166 ha;

-Khu dịch vụ 54 ha;

-Khu nuôi thú hoang dã Đồng Tháp Mười 27 ha.

Đặc biệt , giữa Gò Tháp sẽ xây dựng Tháp Sen cao 110 mét, phỏng theo ý nghĩa câu thơ của nhà thơ Bảo Định Giang ” Tháp Mười đẹp nhất bông sen. Việt Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”.

Khu di tích Gò Tháp đang được tập trung xây dựng để trở thành trung tâm văn hóa du lịch trọng điểm của tỉnh sẽ góp phần tích cực vào việc bảo tồn tốt nhất những giá trị di sản văn hóa của Gò Tháp. Đây sẽ vừa là cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức, đặc biệt là trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích  đối với tỉnh Đồng Tháp. 

Hiện nay, Công ty cổ phần đầu tư Thương mại Du lịch Đồng Tháp Mười đang thực hiện Dự án du lịch sinh thái ở Khu di tích Gò Tháp với các loại hình du lịch văn hóa, lịch sử, sinh thái hấp dẫn.

Hy vọng tương lai không xa, du khách đến đây trong tâm tình của người hành hương tìm về nguồn cội, sẽ có những trải nghiệm lý thú để thêm trân trọng những đóng góp của các bậc tiền nhân đi mở cõi, bởi nhờ đó con cháu hôm nay mới được đứng vững trên miền đất này với cả một di sản qúy báu tồn tại qua không gian và thời gian…

Người dân Đồng Tháp với quyết tâm bảo tồn và phát huy giá trị của Khu di tích, tin rằng trong tương lai không xa, Gò Tháp sẽ là một trung tâm văn hóa quan trọng của tỉnh và của khu vực, vừa mang tính hiện đại vừa mang những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.

Để đến thăm và ngưỡng mộ Khu di tích đặc biệt Gò Tháp bạn có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng trong năm có hai kỳ lễ hội lớn vào ngày rằm tháng 3 và rằm tháng 11 âm lịch nhằm tưởng nhớ công lao chiến đấu chống giặc giữ nước của hai vị anh hùng dân tộc đã có công giữ nước, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Để biết thêm chi tiết bạn nên liên lạc với Ban quản lý Khu di tích Gò Tháp theo địa chỉ sau đây :

Ban quản lý Khu di tích Gò Tháp

Trụ sở : ấp 1, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười

Điện thoại : 0673960071 – 0673960028 – 0673877579

Fax : 0673877579

Email : [email protected]

Trụ sở Ban quản lý Khu di tích Gò Tháp